Các kết quả điều tra địa chất khoáng sản biển hơn 25 năm qua đã xác định vùng biển Đông Nam Bộ (0 – 200 m nước) và kề cận có triển vọng về sa khoáng, đặc biệt là khoáng sản vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, hiện nay chưa được nghiên cứu, điều tra chi tiết để tiến tới khai thác sử dụng.

Dần quan tâm đến xu hướng khai thác cát sỏi từ biển

Trên thế giới, rất nhiều quốc gia đã và đang thăm dò, khai thác sa khoáng và cát sỏi từ đáy biển. Sa khoáng để thu hồi titan và zircon sử dụng cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau; cát sạn sỏi sử dụng làm cốt liệu bê tông, vật liệu xây dựng, vật liệu san lấp nuôi bờ bãi.

Trong khi đó, ở Việt Nam, sa khoáng chỉ mới được khai thác ở các cồn cát, bãi cát ven biển; cát sỏi làm vật liệu xây dựng được khai thác từ các lòng sông trên đất liền. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này ngày càng giảm mạnh và việc khai thác cũng có nhiều tác động xấu đến môi trường, nên những năm gần đây xu hướng tiến tới khai thác cát sỏi từ biển đang được quan tâm thực hiện từ khâu điều tra, đánh giá tài nguyên, công nghệ xử lý mặn, đến đánh giá tác động môi trường trong và sau khai thác.
Nghiên cứu công nghệ xử lý mặn nhằm thăm dò, khai thác hiệu quả cát sỏi đáy biển

Theo đánh giá của Liên đoàn Địa chất và Khoáng sản biển (Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam), các kết quả nghiên cứu về thành phần vật chất và đặc điểm phân bố sa khoáng, vật liệu xây dựng ở vùng biển Đông Nam Bộ là cơ sở quan trọng để tiến hành nghiên cứu công nghệ khai thác, xử lý mặn, nhằm tiến đến thăm dò, khai thác cát sỏi đáy biển làm vật liệu xây dựng, phục vụ nhu cầu của xã hội, góp phần phát triển bền vững kinh tế biển.

Ông Vũ Tất Tuân (Liên đoàn Địa chất và Khoáng sản biển) cho biết, vùng biển Đông Nam Bộ có thềm lục địa thoải, bề rộng lớn (200 - 250 km), đến độ sâu hơn 200 m nước mới chuyển sang sườn lục địa. Nguồn cung cấp vật liệu trầm tích rất lớn từ hệ thống sông Đồng Nai, sông Cửu Long. Chính nguồn cung cấp này đã tạo nên tiềm năng lớn khoáng sản sa khoáng và vật liệu xây dựng.

“Khoáng sản vật liệu xây dựng liên quan trực tiếp với tầng trầm tích cát và sạn sỏi. Tùy thuộc vào hàm lượng cát sạn sỏi mà trầm tích đáy biển được sử dụng làm cốt liệu bê tông, vữa xây trát, vật liệu san lấp, vật liệu nuôi bờ bãi. Vì vậy, dựa vào hàm lượng cát sạn sỏi từ kết quả phân tích độ hạt và bản đồ phân bố các trường trầm tích để xác định đặc điểm phân bố của khoáng sản vật liệu xây dựng”, ông Vũ Tất Tuân cho biết.

Tiếp tục đẩy mạnh điều tra, đánh giá làm rõ triển vọng khoáng sản

Theo ông Lê Văn Đức (Liên đoàn Địa chất và Khoáng sản biển), trầm tích tầng mặt vùng biển Đông Nam Bộ (0 - 200 m nước) có 11 trường trầm tích, chủ yếu là trường trầm tích hạt thô như: sạn cát - sG; cát sạn - gS; cát lẫn sạn - (g)S; cát - S; cát bột - siS, diện tích phân bố khoảng 20.000 km2 tập trung từ 0 - 100 m nước. Các trường trầm tích này chính là nguồn khoáng sản sử dụng trực tiếp làm vật liệu san lấp hoặc tuyển nâng cao chất lượng để làm cốt liệu hạt nhỏ cho bê tông và vữa; đồng thời cũng chứa khoáng vật nặng đi kèm với hàm lượng cao trong các trường trầm tích cát - S, cát bùn lẫn sạn - (g)mS, cát lẫn sạn - (g)S và cát sạn - gS.

Cụ thể, bằng công nghệ tuyển trọng lực có thể tận thu tinh quặng thô trong các trường trầm tích này với hàm lượng khoáng vật nặng dao động 0,03 - 1,46%, sau đó tuyển từ, tuyển điện, kết hợp tuyển trọng lực (tuyển đãi) để thu hồi các khoáng vật có ích (ilmenit, leucoxene, rutil, anataz, zircon, ít hơn có brukit và monazit).

Ông Lê Văn Đức cho hay, theo kết quả thí nghiệm 1 mẫu kỹ thuật công nghệ xác định tính khả tuyển sa khoáng cho kết quả thực thu tinh quặng ilmenite đạt hàm lượng 51,86% TiO2 với mức thực thu (TiO2 47,99%); tinh quặng Zircon 63,55%, ZrO2 với mức thực thu 67,08% và một phần khoáng vật nặng giàu Rutin.

Để sớm khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên này, Liên đoàn Địa chất và Khoáng sản biển kiến nghị tiếp tục đẩy mạnh hoạt động điều tra, đánh giá nhằm làm rõ triển vọng khoáng sản; nghiên cứu áp dụng công nghệ tiên tiến trong khai thác khoáng sản đáy biển; nghiên cứu công nghệ sử dụng cát biển làm cốt liệu bê tông và vữa.

VLXD.org (TH/ Báo TNMT)

Tin liên quan

Những điều cần biết về cát bê tông

Cát bê tông là thành phần cấp phối không thể thiếu khi sản xuất bê tông, cát bê tông được sử dụng rộng rãi trong thi công các công trình xây dựng.


Xem chi tiết: Những điều cần biết về cát bê tông

Đá 4×6 và ứng dụng trong xây dựng

Có khả năng chịu nén, chịu lực tốt, độ cứng, bám dính nhựa đường cao… đá 4×6 được sử dụng nhiều trong thi công làm lớp bê tông lót móng, làm nền, đường,… giúp gia tăng tuổi thọ cho các công trình.


Xem chi tiết: Đá 4×6 và ứng dụng trong xây dựng

Đá 0x4 là gì và ứng dụng trong xây dựng

Được sản xuất từ các loại đá tự nhiên, đá 0x4 có độ nhám cao, kết dính tốt nên được sử dụng nhiều trong thi công đường, san lấp nền, móng…


Xem chi tiết: Đá 0x4 là gì và ứng dụng trong xây dựng

Ứng dụng của cát xây tô trong đời sống

Sở hữu đặc tính hạt nhỏ, mịn, sạch với khả năng thấm hút nước, kết dính tốt với xi măng, cát xây tô được sử dụng nhiều trong các công trình xây dựng, đảm bảo được độ bền cũng như tính thẩm mỹ cho công trình.


Xem chi tiết: Ứng dụng của cát xây tô trong đời sống

Tiêu chuẩn cát nhân tạo trong sản xuất bê tông

Cát nhân tạo hay còn được gọi là cát nghiền, được sản xuất để thay thế dần trong tương lai cho cát tự nhiên, dùng công nghệ va đập ở tốc độ cao làm cho đá bị vỡ ở mặt cắt yếu nhất, giúp sản phẩm có hình dạng tròn và có độ ma sát thấp, giúp tăng tính linh hoạt cho bê tông, chất lượng bê tông tốt và ổn định.


Xem chi tiết: Tiêu chuẩn cát nhân tạo trong sản xuất bê tông

Ứng dụng của cát vàng trong xây dựng

Cát vàng là vật liệu có nguồn gốc tự nhiên có ưu điểm về độ sạch, cứng,… được sử dụng nhiều trong thi công các công trình xây dựng.


Xem chi tiết: Ứng dụng của cát vàng trong xây dựng

Ứng dụng đá 1×2 trong xây dựng

Đá 1×2 là loại vật liệu được sử dụng phổ biến trong các công trình xây dựng. Vậy đá 1×2 là gì và ứng dụng như thế nào?


Xem chi tiết: Ứng dụng đá 1×2 trong xây dựng

Ứng dụng của đá mi bụi trong xây dựng

Đá mi bụi được dùng thay thế cát trong xây dựng, dùng san lấp mặt bằng, rải nền đường, nền nhà, làm chất phụ gia cho các công nghệ bê tông đúc ống cống, gạch không nung…


Xem chi tiết: Ứng dụng của đá mi bụi trong xây dựng

Khách sạn Babylonstoren ở Nam Phi chính thức mở cửa Vườn gia vị

Supernormal thiết kế lớp học kiểu mới cho trung tâm giáo dục trẻ em ở Massachusetts

Phòng tắm sẽ trông như thế nào trong tương lai?

Ván gỗ: Sự khác nhau giữa gỗ MDF, MDP, Plywood và OSB

10 ý tưởng thông minh để trưng bày nồi và chảo trong bếp

Thiết kế cửa gỗ xoay giúp căn hộ ở São Paulo trở nên mềm mại hơn

Phân biệt Coverlet, Duvet, Quilt và Comforter

9 cách để tận dụng tối đa không gian sân hiên nhà bạn

Yusuke Seki với lột xác Bang & Olufsen Audio Kyoto

10 sắc đỏ rạng rỡ cho Powder Room (phòng tắm dành cho khách)